|
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự
(BLTTDS) năm 2004, có hiệu lực thi hành từ ngày 01-01-2012; dưới đây là một số
quy định mới của Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng dân sự (gọi tắt là Luật
sửa đổi, bổ sung), xin giới thiệu cùng bạn đọc:
Một là, về thời hiệu khởi kiện: Theo BLTTDS năm 2004 thì trường hợp pháp
luật không có quy định về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu thì thời hiệu
khởi kiện vụ án dân sự là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá
nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm hại; và thời
hiệu yêu cầu để Tòa án giải quyết việc dân sự là một năm, kể từ ngày phát sinh
yêu cầu. Nay Luật sửa đổi, bổ sung quy định mở rộng hơn. Cụ thể là thời hiệu
khởi kiện các vụ án dân sự được thực hiện theo quy định của pháp luật; trường
hợp pháp luật không quy định thì thời hiệu khởi kiện là hai năm, kể từ ngày cá
nhân, cơ quan, tổ chức biết được quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm
phạm. Riêng các tranh chấp về quyền sở hữu tài sản; tranh chấp về đòi lại tài
sản do người khác quản lý, chiếm hữu; tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy
định của pháp luật về đất đai thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện. Đối với thời
hiệu yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự là một năm, kể từ ngày phát sinh
quyền yêu cầu; trừ các việc dân sự có liên quan quyền dân sự về nhân thân của
cá nhân thì không áp dụng thời hiệu yêu cầu.
Ngoài ra, BLTTDS năm 2004 quy định: Tòa án trả lại đơn khởi kiện khi
thời hiệu khởi kiện đã hết. Nay theo Luật sửa đổi, bổ sung thì Tòa án không
được trả lại đơn vì lý do thời hiệu đã hết, mà khi nhận được đơn khởi kiện của
đương sự, nếu thấy thời hiệu khởi kiện đã hết thì tùy theo từng trường hợp mà
Tòa án giải quyết theo Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi
hành một số quy định về thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm.
Hai là, Luật sửa đổi, bổ sung quy định thêm thẩm quyền cho Tòa án giải
quyết các tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu;
tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của
pháp luật về thi hành án dân; tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, thanh
toán phí tổn đăng ký mua tài sản, bán đấu giá theo quy định của pháp luật về
thi hành án dân sự. Theo đó, Tòa án có quyền giải quyết việc yêu cầu tuyên bố
văn bản công chứng vô hiệu, việc yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng
tài sản. Ngoài ra, khi giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án có quyền hủy quyết
định cá biệt rõ ràng trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền
trong cơ quan, tổ chức đó xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự
trong vụ việc dân sự mà Tòa án có nhiệm vụ giải quyết.
Ba là, vấn đề kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng dân
sự, BLTTDS năm 2004 chỉ quy định trong phạm vi giới hạn: “Viện kiểm sát nhân
dân tham gia phiên tòa đối với những vụ án do Tòa án thu thập chứng cứ mà đương
sự có khiếu nại, các việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, các vụ
việc dân sự mà Viện kiểm sát kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án”. Nay Luật
sửa đổi, bổ sung quy định mở rộng hơn. Theo đó,Viện kiểm sát tham gia các phiên
họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự; các phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án
do Thẩm phán tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản
công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có một bên đương sự là
người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần; tham gia các
phiên tòa, phiên họp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm. Tại phiên tòa sơ thẩm,
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá
trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật
của những người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước
thời điểm Hội đồng xét xử nghị án (tại phiên tòa sơ thẩm chưa có bản án, quyết
định của Hội đồng xét xử, nên Kiểm sát viên không phát biểu việc chấp hành pháp
luật nội dung), và Kiểm sát viên không đề nghị Hội đồng xét xử về đường lối
giải quyết vụ án. Tại phiên tòa phúc thẩm, giảm đốc thẩm, tái thẩm, đã có bản
án, quyết định của Tòa án và có kháng cáo, kháng nghị, cho nên khi Kiểm sát
viên phát biểu phải trình bày quan điểm rõ ràng về bản án, quyết định của Tòa
án để bảo vệ quan điểm kháng nghị của Viện kiểm sát, nhằm tăng cường giám sát
tại phiên tòa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của các bên đương
sự.
Bốn là, vấn đề xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao. BLTTDS năm 2004 không quy định xem xét
lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán TANDTC. Thực tế những năm qua cho thấy có
một số quyết định của Hội đồng Thẩm phán TANDTC vi phạm pháp luật nghiêm trọng,
xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân nhưng không có cơ chế nào yêu
cầu sửa hoặc hủy bỏ quyết định này. Do đó, Luật sửa đổi, bổ sung lần này có bổ
sung mới một thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán
TANDTC. Theo đó, khi có căn cứ xác định quyết định của Hội đồng Thẩm phán
TANDTC vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc phát hiện có tình tiết quan trọng
mới có thể làm thay đổi cơ bản về nội dung quyết định mà đương sự, Hội đồng
Thẩm phán TANDTC không biết được khi ra quyết định đó, nếu có yêu cầu của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội; kiến nghị của Ủy ban Tư pháp Quốc hội, của Viện trưởng
VKSNDTC hoặc đề nghị của Chánh án TANDTC thì Hội đồng Thẩm phán TANDTC xem xét
lại quyết định đó.
Ngoài ra, Luật sửa đổi, bổ sung còn quy định thủ tục nhận và xem xét
lại đơn đề nghị đối với bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
theo thủ tục giám đốc thẩm.
Thân Phước Thành
|