Liên kết



Đường dây nóng



Thống kê truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay909
mod_vvisit_counterHôm qua2544
mod_vvisit_counterTuần này5198
mod_vvisit_counterTuần trước17719
mod_vvisit_counterTháng này56657
mod_vvisit_counterTháng trước78579
mod_vvisit_counterTất cả530939
Hiện có 28 khách Trực tuyến
Những mâu thuẫn trong pháp luật về hoạt động của HĐND cần nghiên cứu sửa đổi PDF. In Email
Thứ tư, 01 Tháng 2 2012 08:56

Thể chế về tổ chức và hoạt động của HĐND và UBND các cấp được xây dựng ngày càng hoàn thiện, tuy nhiên, trong các Luật đang có hiệu lực thi hành như: Luật Tổ chức HĐND và UBND; Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND và Quy chế hoạt động của HĐND, Luật Quy hoạch đô thị còn chứa đựng những mâu thuẫn, chưa rõ nghĩa cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung.

Chưa thống nhất về thời gian 

Điều 48 Luật Tổ chức HĐND và UBND quy định: Tài liệu cần thiết của kỳ họp HĐND (tỉnh, huyện, xã) phải được gửi đến đại biểu HĐND chậm nhất là năm ngày trước ngày khai mạc kỳ họp. Điều 8 Quy chế hoạt động của HĐND cũng quy định: Chậm nhất là năm ngàytrước ngày khai mạc kỳ họp HĐND, Thường trực HĐND gửi đến đại biểu HĐND dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án trình HĐND, báo cáo thẩm tra của các Ban của HĐND và các tài liệu cần thiết khác.

Tuy nhiên, trong Điều 34, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND quy định trình tự xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết của HĐND cấp xã lại quy định:Chậm nhất là ba ngày trước ngày khai mạc kỳ họp HĐND, UBND gửi tờ trình, dự thảo nghị quyết và các tài liệu liên quan đến đại biểu HĐND. Như vậy, giữa 2 Luật có mâu thuẫn về cùng một vấn đề quy định đối với cấp xã.

Đối với cấp tỉnh, do tính chất và phạm vi tác động, điều chỉnh của các quy phạm pháp luật lớn hơn cấp huyện, nên các quy định về trình tự, thủ tục soạn thảo, ban hành nghị quyết của HĐND cấp tỉnh được Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND quy định rất chặt chẽ. Ở cấp huyện, tuy được phân cấp, phân quyền hẹp hơn nhưng qua thực tiễn áp dụng, cần coi trọng một số điểm về quy trình, nhằm bảo đảm chất lượng văn bản dự thảo. Chẳng hạn, Điều 31 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND; Điều 8 Quy chế hoạt động của HĐND quy định đối với cấp huyện: chậm nhất là 10 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp HĐND, UBND có trách nhiệm gửi dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án trình HĐND tại kỳ họp đến Ban của HĐND được phân công thẩm tra. Tuy nhiên, Điều 65 Quy chế hoạt động của HĐND cũng quy định cho 2 cấp tỉnh, huyện: chậm nhất là 10 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp HĐND, Ban của HĐND tổ chức họp thẩm tra báo cáo công tác của UBND, cơ quan chuyên môn thuộc UBND, TAND, VKSND cùng cấp theo sự phân công của HĐND hoặc Thường trực HĐND.

Quy định như trên về thời gian “chậm nhất” phải gửi những tài liệu là dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án đến các Ban và thời gian “chậm nhất” mà các Ban của HĐND phải tổ chức họp thẩm tra (đều cùng 10 ngày trước khai mạc kỳ họp) là khó cho hoạt động thẩm tra của các Ban của HĐND cấp huyện. Bởi vì, nếu UBND gửi tài liệu sớm hơn 10 ngày thì các Ban của HĐND còn có thời gian nghiên cứu, thẩm tra, xây dựng báo cáo, gửi đến Thường trực HĐND để gửi đến đại biểu HĐND theo quy định. Nhưng nếu UBND gửi tài liệu chậm nhất 10 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp như quy định thì các Ban không có thời gian nghiên cứu trước khi họp thẩm tra; chắc chắn, chất lượng báo cáo thẩm tra sẽ không cao và hệ lụy của báo cáo thẩm tra dạng này sẽ làm cho hoạt động thẩm tra của các Ban của HĐND trở nên hình thức. Vì vậy, để khắc phục mâu thuẫn trên, đề nghị sửa đổi Điều 31 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND và sửa đổi Điều 8 Quy chế hoạt động của HĐND theo hướng: quy định chung cho cả cấp tỉnh và cấp huyện (thay vì chỉ có cấp tỉnh), chậm nhất là 15 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp HĐND, các dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án trình HĐND tại kỳ họp phải được gửi tới Thường trực HĐND, các Ban của HĐND để tiến hành thẩm tra.

Như thế nào là xét thấy cần thiết?

Điều 25, Quy chế hoạt động của HĐND quy định: Thường trực HĐND mỗi tháng họp ít nhất một lần để kiểm điểm việc thực hiện nhiệm vụ của mình, các nghị quyết của HĐND, các quyết định của Thường trực HĐND và đề ra nhiệm vụ công tác tháng sau..., đại diện UBND cùng cấp được mời dự cuộc họp của Thường trực HĐND. Thế nhưng, tại Điều 68 Quy chế lại quy định: Đại diện UBND được mời dự các cuộc họp hàng tháng và các cuộc họp khác của Thường trực HĐND khi xét thấy cần thiết.

Như vậy, cùng một nội dung nhưng giữa Điều 25 và Điều 68 có sự khác nhau cụm từ “khi xét thấy cần thiết”. Cũng có nghĩa chỉ khi cần thiết mới mời dự họp, trong khi hiểu như thế nào là “cần thiết” thì còn tùy thuộc vào ý chí chủ quan của mỗi người mà chưa có sự “lượng hóa” hay tiêu chí nào quy định. Thực tế, trong các quy định của những Luật và văn bản quy phạm pháp luật nêu trên, các cụm từ “khi xét thấy cần thiết”, “tài liệu cần thiết” và “về những vấn đề có liên quan” được sử dụng, là những cụm từ có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Do đó, cần thận trọng khi sử dụng các cụm từ này trong các văn bản có tính quy phạm.

Cơ quan nào soạn thảo nghị quyết?

Điều 30 và 33 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND quy định dự thảo nghị quyết của HĐND cấp huyện do UBND cùng cấp trình HĐND; dự thảo nghị quyết của HĐND cấp xã do UBND cùng cấp soạn thảo và trình HĐND.

Như vậy, tất cả các nghị quyết của HĐND cấp huyện, cấp xã thuộc dạng văn bản quy phạm pháp luật đều do UBND soạn thảo và trình HĐND. Tuy nhiên, trên thực tế đối với HĐND cấp huyện, cấp xã, có nghị quyết không nên giao cho UBND chủ trì soạn thảo mà phải giao cho Thường trực HĐND chủ trì soạn thảo, trình HĐND mới đúng chức năng và bảo đảm tính khách quan, ví dụ: Nghị quyết về ban hành Quy chế hoạt động của HĐND hay Nghị quyết về nội dung giám sát theo pháp luật của HĐND chẳng hạn. Vì vậy, để phù hợp với thực tiễn, có thể nghiên cứu bổ sung thêm Điều 30 và Điều 33 nói về quy định dự thảo nghị quyết của HĐND cấp huyện, cấp xã theo hướng: căn cứ nội dung dự thảo nghị quyết của HĐND để giao cho Thường trực HĐND, UBND cùng cấp trình HĐND xem xét quyết định.

Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền đô thị

Điều 4, Luật Quy hoạch đô thị về phân loại và cấp quản lý hành chính đô thị quy định: (1) Đô thị được phân thành 6 loại gồm loại đặc biệt, loại I, II, III, IV và V. (2) Việc xác định cấp quản lý hành chính đô thị được quy định “Thị trấn phải là đô thị loại IV hoặc loại V”. Như vậy, Luật Quy hoạch đô thị quy định rõ thị trấn là một cấp quản lý hành chính đô thị.

Tuy nhiên, trong mục 3, Chương II và Mục 3, Chương IV Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 thì HĐND và UBND thị trấn chỉ được quy định như là một cấp quản lý hành chính xã, không có điểm nào quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND và UBND thị trấn về tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển KT – XH đô thị cũng như các mặt công tác khác của đô thị. Điều này đã làm hạn chế hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp thị trấn, một cấp quản lý hành chính đô thị. Vì vậy, cần nghiên cứu, bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND và UBND các đô thị (cấp thị trấn) nhằm thống nhất và đồng bộ với Luật Quy hoạch đô thị năm 2009.

Nguyễn Vân Hậu - Báo Đại Biểu Nhân Dân
 

Tin mới hơn:
Tin cũ hơn: