|
Hội Luật gia Việt Nam là tổ chức chính
trị- xã hội, nghề nghiệp lớn nhất hoạt động trong lĩnh vực pháp luật ở Việt
Nam. Được thành lập từ năm 1955, đến nay, hệ thống tổ chức của Hội đã được phát
triển rộng khắp trên cả nước, với 62 Hội Luật gia cấp tỉnh, 52 Hội Luật gia các
bộ, ngành, tổ chức ở trung ương, hội viên của Hội là 44.300 người.
Trong công tác phổ biến, giáo dục pháp
luật, Điều lệ Hội Luật gia Việt Nam ghi rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Hội là: “Tham gia tuyên truyền, phổ biến, giáo dục
pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật cho hội viên, cán bộ, công chức, viên chức
và nhân dân”. Với sức mạnh về tổ chức và sự tích cực, nhiệt tình của hội
viên, đặc biệt là sự hỗ trợ, tạo điều kiện khuyến khích của Bộ Tư pháp- với tư cách là cơ quan chịu trách nhiệm
trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật; chỉ
đạo và tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong phạm vi cả
nước- trong nhiều năm qua, Hội Luật gia Việt Nam đã có những đóng góp đáng
kể trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật ở Việt Nam.
Trong chương trình cải cách tư pháp ở Việt Nam, Hội Luật gia Việt Nam và Bộ
Tư pháp hiện cũng đang cùng nhau phối hợp xây dựng Đề án “Xã hội hoá công tác phổ biến, giáo duc pháp luật và trợ giúp
pháp lý” trên cơ sở bảo đảm các nguyên tắc (theo quan điểm của nhóm nghiên
cứu):
1.
Bám sát đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về xã hội hoá;
yêu cầu về phổ biến, giáo dục pháp luật trong từng thời kỳ.
2.
Vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào các
hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, trong đó có sự hỗ trợ của Nhà nước; mở
rộng các cơ hội cho các tầng lớp nhân dân tham gia chủ động và bình đẳng vào
các hoạt động này.
3.
Xã hội hoá và đa dạng hoá các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật bằng việc
củng cố các tổ chức của Nhà nước, phát triển rộng rãi các hình thức hoạt động
do các tập thể, cá nhân tiến hành; tăng cường sự phối hợp trong công tác phổ
biến, giáo dục pháp luật giữa các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, trong
đó có vai trò của Hội luật gia Việt Nam.
4.
Tạo điều kiện mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nhân lực, vật
lực và tài lực trong xã hội. Phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của
nhân dân nhằm đạt được các mục tiêu của chương trình, kế hoạch hoạt động phổ
biến, giáo dục pháp luật mà Đảng và Nhà nước đã đặt ra.
5.
Bảo đảm nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững, lâu dài của các hoạt động
phổ biến, giáo dục pháp luật .
Trong khuôn khổ tham luận này, nhóm
nghiên cứu xin chia sẻ với hội thảo một vài suy nghĩ về “Vai trò của Nhà nước và các tổ chức xã hội trong công tác phổ biến,
giáo dục pháp luật” ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
*
* *
Theo chúng tôi, phổ biến, giáo dục pháp
luật là trách nhiệm của Nhà nước và của toàn bộ hệ thống chính trị. Thực hiện
phổ biến, giáo dục pháp luật là một công tác xã hội, là “của chung xã hội”, do Nhà
nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và của “toàn thể công chúng” thực
hiện, trong đó Nhà nước giữ vai trò nòng cốt.
Do tầm quan trọng của công tác phổ biến,
giáo dục pháp luật, trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước rất quan tâm chỉ đạo
thực hiện các công tác này. Một loạt văn kiện quan trọng đã được Đảng và Nhà
nước ban hành, tạo khuôn khổ pháp lý khá toàn diện, đầy đủ trong việc thực hiện
các công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
Tuy nhiên, xét một cách tổng quát, công
tác phổ biến, giáo dục pháp luật vẫn còn những tồn tại, hạn chế nhất định:
- Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở một số ngành, địa phương có nơi
chưa được quan tâm đúng mức, chưa đồng bộ, còn mang tính hình thức, dàn trải,
thiếu trọng tâm, chưa bảo đảm chiều sâu, chưa hướng về cơ sở, hiệu quả chưa
cao;
- Văn bản quy phạm pháp luật được ban hành nhiều, việc phân loại, hệ thống
hoá pháp luật chưa được thực hiện tốt, tính ổn định của hệ thống quy phạm còn
yếu, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên vẫn phải chờ văn bản hướng thi hành
của cơ quan nhà nước cấp dưới làm cho làm cho hệ thống phổ biến, giáo dục pháp luật
bị hạn chế;
- Nguồn kinh phí chủ yếu vẫn là ngân sách nhà nước; cơ sở vật chất, phương
tiện làm việc, nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác phổ biến,
giáo dục pháp luật.
- Sự
tham gia của các tổ chức xã hội vào hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật về
cơ bản vẫn còn mang tính hình thức, bị động, trông chờ bao cấp, chưa chủ động
thực hiện cơ chế lấy thu bù chi, thu hút nguồn lực và tự trang trải bằng nguồn
phi ngân sách.
Nguyên nhân cơ bản của hạn chế, bất cập là:
- Thể chế cho hoạt động phổ biến,
giáo dục pháp luật chưa được điều chỉnh bằng một văn bản có giá trị pháp lý cao
như Luật.
- Ở một số nơi, cấp uỷ đảng, chính quyền chưa nhận thức sâu sắc về tầm quan
trọng của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
- Chất lượng nguồn nhân lực chưa đồng đều, đội ngũ làm công tác phổ biến,
giáo dục pháp luật còn thiếu nhiều, chủ yếu hoạt động kiêm nhiệm nên chưa đáp
ứng yêu cầu.
- Cơ sở vật chất, phương tiện, nguồn kinh phí dành cho công tác phổ biến,
giáo dục pháp luật chưa đáp ứng yêu cầu.
- Các tổ chức xã hội chưa
nhận thức đầy đủ về trách nhiệm của mình trong các hoạt động phổ biến, giáo dục
pháp luật. Một số tổ chức vẫn còn coi những hoạt động này là trách nhiệm chỉ
của các cơ quan nhà nước, chưa coi trọng việc phát huy vai trò của các tổ chức
xã hội, tổ chức nghề nghiệp trong các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Các
tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp nói chung còn thiếu động lực, đầu tư thích
đáng để có phương pháp, hình thức tổ chức, nguồn nhân lực và kinh phí cho hoạt động phổ biến, giáo dục
pháp luật.
Những thách thức của công tác phổ biến, giáo dục pháp
luật
- Sự phức tạp của hệ
thống pháp luật và sự gia tăng về số lượng luật. Một trong những thách thức của
nhà nước là làm thế nào cung cấp thông tin cho người dân về pháp luật khi pháp
luật ngày càng trở nên phức tạp và gia tăng về số lượng. Nhà nước có thể ban
hành luật và các quy định pháp luật nhưng các luật này sẽ ít phát huy tác dụng
khi mà các đối tượng phải tuân thủ và thực thi lại không biết sự tồn tại của
các luật này.
- Cản trở về địa lý và hậu cần để đưa
thông tin và áp dụng luật ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Thách thức về
thông tin và giáo dục luật càng trở lên khó khăn hơn đối với đưa thông tin và
áp dụng luật đối với các cộng đồng nông thôn và đồng bào dân tộc ở vùng sâu,
vùng xa.
- Các luật lệ, phong tục, ngôn ngữ địa
phương. Ở mỗi vùng khác nhau thường có những phong tục tập quán khác nhau mà
những tập quán này thường mâu thuẫn với các luật do nhà nước ban hành, đặc biệt
là vùng núi, vùng sâu, vùng xa, bên cạnh các cản trở của các tập quán địa
phương, ngôn ngữ của các dân tộc khác nhau có thể cản trở quá trình tuyên
truyền và chấp nhận pháp luật.
- Nguồn lực (nhân lực và tài chính).
Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật luôn đòi hỏi phải có một nguồn nhân lực,
nguồn tài chính thoả đáng, trong khi nhà nước còn rất nhiều khoản phải chi.
Thực tế cho thấy hiện nay Nhà nước không có đủ nguồn lực thoả đáng để tự thiết
kế và thực hiện các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, là những nhu cầu
cần thiết ở các nhà nước hiện đại với hệ thống pháp luật phức tạp. Chúng ta
phải đối mặt với rất nhiều mục tiêu ưu tiên xong lại xung đột với nhau, trong
khi đó cũng có quá nhiều mục tiêu được coi là quan trọng từ xoá đói giảm nghèo
tới y tế và vô số các tệ nạn xã hội khác.
- Sự hợp tác, phối hợp của các cơ
quan, tổ chức có liên quan. Thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật thường
rất phức tạp đòi hỏi sự hợp tác (ít nhất là sự phối hợp) của các bộ, ngành
trung ương, các cơ quan liên bộ trong Nhà nước, phân bổ thoả đáng các nguồn
lực, có kế hoạch ưu tiên và sự phối hợp của các cấp chính quyền để việc thực
hiện các chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật có thể tiếp cận được tới cấp
cơ sở và cộng đồng dân cư địa phương.
Vấn đề đặt ra cho giải
pháp giải quyết những thách thức này
- Nhà nước có nên hướng tới các tổ chức xã hội
trong hoạt động phổ biến giáo dục pháp luật để họ tham gia vào hoạt động này,
thậm chí bao gồm cả việc thiết kế, lập chương trình phổ biến, giáo dục pháp
luật. Ở một số quốc gia, các bên hữu quan là các tổ chức xã hội dân sự tiến
hành thiết kế và thực hiện các dịch vụ phổ biến, giáo dục pháp luật độc lập mà
không cần tới sự hỗ trợ về tài chính và hậu cần của nhà nước. Ở những nước
khác, thì các tổ chức được thành lập trên cơ sở hợp danh để thực hiện các
chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật.
Sự tham gia của các tổ chức xã hội dân
sự vào hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật là một vấn đề mới. Các tổ chức xã
hội dân sự trên thế giới, cho dù được định nghĩa thế nào chăng nữa thì cũng đã
và đang tham gia vào các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật từ lâu. Điểm
đang thay đổi chính là vai trò ngày càng đang mở rộng của các tổ chức này thông
qua các hoạt động độc lập, đồng thời qua các liên danh của các chính quyền địa
phương, khu vực và quốc gia. Xã hội dân sự cũng đã được đề nghị đóng vai trò
lớn hơn trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật nhất là đối với các vấn đề
quan trọng có tính toàn cầu như nhận thức về thay đổi khí hậu và y tế/AIDS....
Các nước có chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật công phu nhất là các quốc
gia đã kết hợp và tạo điều kiện hoàn toàn cho sự tham gia của các tổ chức xã
hội dân sự hữu quan và nhờ đó có thể tập trung vào xác định mục tiêu kết quả mà
họ khó có thể làm được bằng cách khác.
Các vấn đề mà các nhà nước gặp phải
trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật không thể giải quyết được bởi một
mình Nhà nước hoặc chỉ bằng các nguồn lực của Nhà nước. Ngay cả khi một nhà
nước có các nguồn lực đáng kể thì họ vẫn chọn sử dụng các tổ chức xã hội dân sự
trong quá trình thiết kế và thực hiện hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật để
tăng cường tính khách quan, độc lập, sáng tạo và sự tin tưởng của người dân -
vốn là các mục đích có thể khó đạt được thông qua chương trình phổ biến, giáo
dục pháp luật của Nhà nước. Bên cạnh việc tranh thủ các năng lực và nguồn lực
của nhóm xã hội dân sự này, còn có một lý do khác khiến nhiều Nhà nước không có
ý định tự mình thực hiện nhiệm vụ cung cấp các thông tin và phổ biến, giáo dục
pháp luật, đó là: người dân (thậm chí cả các Nhà nước) đều được hưởng lợi từ vị
thế độc lập của các nhóm xã hội dân sự so với Nhà nước. Các nhóm phi Nhà nước
hoạt động khách quan hơn và duy trì một mối quan hệ có chừng mực với Nhà nước
nhờ thế mọi người lĩnh hội thông tin dễ dàng hơn và tin tưởng hơn vào các thông
tin mà họ đang tiếp nhận.
Song ngay cả khi Nhà nước quyết định
sử dụng kỹ năng và nguồn lực của xã hội dân sự vào các chương trình phổ biến,
giáo dục pháp luật thì vẫn cần đặt ra câu hỏi là: Nhà nước nên duy trì vai trò
gì, vai trò của Nhà nước trong xác định các mục tiêu ưu tiên; liệu có nên tham
gia vào các liên danh tư nhân/nhà nước với xã hội dân sự không; liệu có nên tài
trợ cho các tổ chức xã hội dân sự không thay vì để Nhà nước tự thực hiện các
chương trình đó trên thực tế, và nếu Nhà nước chọn cách làm việc với xã hội dân
sự trong các chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật, thì làm sao để Nhà nước
duy trì mức độ chính xác của các thông tin được tuyên truyền mà vẫn đảm bảo
được chất lượng cung cấp.
Và câu hỏi khó ở đây không phải là
liệu các tổ chức xã hội dân sự có nên tham gia trong hoạt động phổ biến, giáo
dục pháp luật hay không mà là vai trò tốt nhất của tổ chức xã hội dân sự trong
quy trình phổ biến, giáo dục pháp luật là gì. Làm thế nào để có thể phát huy
tốt nhất vai trò của Nhà nước, làm sao để Nhà nước có thể đặt ra cho mục tiêu
cho chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật và lại cộng tác với xã hội dân sự
trong việc thiết kế và thực hiện chương trình. Trên thế giới có nhiều ví dụ
minh hoạ cho phương thức phối hợp giữa Nhà nước và xã hội dân sự trong việc phổ
biến, giáo dục pháp luật.
Trong giai đoạn đầu tham gia phổ biến,
giáo dục pháp luật của các tổ chức xã hội dân sự, điều quan trọng là Nhà nước
cần phải duy trì một vai trò nhất định bởi có những vấn đề chỉ có Nhà nước mới
có thể giải quyết và những nguồn lực mà Nhà nước cần cung cấp. Cụ thể là:
1) Vai trò của Nhà nước
Sau đây là những việc mà xã hội dân sự
không thể làm, uỷ thác của Nhà nước và những việc Nhà nước có thể làm một cách
tốt nhất:
- Hợp tác và phối hợp ở cấp bộ, ngành
của Nhà nước (luật, giáo dục, nâng cao nhận thức, cung cấp thông tin và tiếp
cận thông tin);
- Xác định các ưu tiên;
- Mạng lưới;
- Các trung tâm tự lực và thông tin
pháp lý: các hệ thống thông tin vô hình và hữu hình;
- Hệ thống giáo dục (xây dựng chương
trình học từ phổ thông tới đại học, các khoa luật, sử dụng thư viện);
- Tham vấn trong quá trình thiết kế và
thực hiện các chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật (xác định các ưu tiên
và tiêu chuẩn và kiểm soát chất lượng);
- Các chiến dịch tuyên truyền;
- Thông tin từ các cơ quan; thông tin
trực tuyến (trang web, công báo);
- Tham vấn công chúng và các bên liên
quan về xây dựng chính sách và luật;
- Tập huấn và đào tạo;
- Cung cấp tài lực và hỗ trợ đường lối;
- Thu thập thông tin: đánh giá một
cách khoa học các vấn đề.
2) Khung pháp lý
Một trong những vai trò đầu tiên và
quan trọng nhất mà Nhà nước cần đảm đương trong phổ biến, giáo dục pháp luật là
xây dựng cơ sở pháp lý cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật: đó là các
luật, quy định hình thành nên nghĩa vụ thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật.
3) Sự phối hợp và hợp tác của Nhà nước:
cấp bộ và sở, ban, ngành
Sau khi cơ sở pháp lý cơ bản và hỗ trợ
về nguồn lực đã được hình thành, vai trò quan trọng tiếp theo của Nhà nước là
phân công nhiệm vụ cho các bộ, ngành liên quan đến các hợp phần của một chương
trình phổ biến, giáo dục pháp luật. Các bộ, ngành phải chia sẻ trách nhiệm và
phối hợp hoạt động với nhau và trên thực tế cơ chế phối hợp liên bộ và liên
ngành là một hợp phần khó khăn.
Xin trân trọng cảm ơn Bộ Tư pháp và Vụ
Phổ biến, giáo dục pháp luật đã cho tôi
cơ hội để chia sẻ những suy nghĩ này và rất mong có được sự góp ý, phản biện từ
các đồng nghiệp./
Normal
0
false
false
false
EN-US
X-NONE
X-NONE
MicrosoftInternetExplorer4
/* Style Definitions */
table.MsoNormalTable
{mso-style-name:"Table Normal";
mso-tstyle-rowband-size:0;
mso-tstyle-colband-size:0;
mso-style-noshow:yes;
mso-style-priority:99;
mso-style-qformat:yes;
mso-style-parent:"";
mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt;
mso-para-margin:0cm;
mso-para-margin-bottom:.0001pt;
mso-pagination:widow-orphan;
font-size:11.0pt;
font-family:"Calibri","sans-serif";
mso-ascii-font-family:Calibri;
mso-ascii-theme-font:minor-latin;
mso-fareast-font-family:"Times New Roman";
mso-fareast-theme-font:minor-fareast;
mso-hansi-font-family:Calibri;
mso-hansi-theme-font:minor-latin;
mso-bidi-font-family:"Times New Roman";
mso-bidi-theme-font:minor-bidi;}
Ths. Phạm Thị Hương Lan -
Trung ương Hội Luật gia Việt Nam
CTT Bộ Tư pháp
|