|
Trong những năm gần đây, mua bán người đã trở thành
một vấn nạn, gây bức xúc trong toàn xã hội, không chỉ ở Việt Nam mà trên phạm vi toàn thế giới.
Tình hình tội phạm mua bán người nói chung và mua bán phụ nữ, trẻ em nói riêng
diễn biến ngày càng phức tạp; tính chất và thủ đoạn hoạt động ngày càng nghiêm
trọng, tinh vi, xảo quyệt; nhiều trường hợp có tổ chức chặt chẽ và có tính
xuyên quốc gia. Để có cơ sở pháp lý tăng cường đấu tranh phòng, chống tệ nạn
mua bán người, ngày 29/3/2011, tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XII đã thông qua
Luật Phòng, chống mua bán người.
Dưới đây là những nhóm hành vi bị Luật Phòng,
chống mua bán người nghiêm cấp:
1. Nhóm các hành vi mua bán người:
được quy định tại Điều 119 và 120
của Bộ luật hình sự (BLHS) và các hành vi trực tiếp liên quan đến việc mua bán
người mà Công ước về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia liệt vào danh
sách các hành vi buôn bán người. Nhóm này được xem là nhóm hành vi cốt lõi được
quy định tại khoản 1 Điều 3 của Luật Phòng, chống mua bán người.
Nhóm hành vi nêu trên có thể là hành vi phạm
tội đơn lẻ hoặc phạm tội mang tính đồng phạm dưới dạng đơn giản hoặc có tổ
chức, mang tính chuyên nghiệp xảy ra trong nước hoặc xuyên quốc gia hoặc cũng
có thể là hành vi phạm một tội khác theo quy định của BLHS nhưng có mối liên hệ
chặt chẽ với hành vi mua bán người. Vì thế, những hành vi này được xem là những
hành vi trong nhóm trọng tâm nhất mà Luật Phòng, chống mua bán người cần phải
nghiêm cấm trước tiên.
2. Nhóm các hành vi liên quan đến việc thực hiện nhiệm
vụ, quyền hạn trong phòng, chống mua bán người. Nhóm hành vi này được quy định
tai các khoản 2, 3, 4, 5 Điều 3 Luật Phòng, chống mua bán người. Đây là nhóm hành vi lợi
dụng hoạt động phòng, chống mua bán người để trục lợi, thực hiện các hành vi
trái pháp luật; cản trở việc tố giác, tố cáo, khai báo và xử lý hành vi vi phạm
pháp luật về phòng, chống mua bán người; trả thù, đe dọa trả thù người làm
chứng, người tố giác, người tố cáo, người thân thích của họ hoặc người ngăn
chặn hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống mua bán người;
3.Nhóm các hành vi có liên quan đến nạn nhân: Nhóm này được quy định tại các khoản 6, 9, 10,
11 của Điều 3 Luật Phòng, chống mua bán người. Đây là những hành vi kỳ thị, phân biệt đối xử
với nạn nhân; trả thù, đe dọa
trả thù nạn nhân; tiết lộ thông tin về nạn nhân khi chưa có sự đồng ý của họ
hoặc của người đại diện hợp pháp của nạn nhân; giả mạo là nạn nhân; ....
Ngoài ra, Luật Phòng, chống mua bán người
còn quy định những hành vi khác vi phạm các quy định
của Luật này cũng bị coi là hành vi bị cấm (khoản 12 Điều 3).
Việc quy định những hành vi bị nghiêm cấm
có ý nghĩa hết sức quan trọng, tạo cơ sở pháp lý để xử lý người vi phạm. Chính
vì vậy mà những hành vi bị cấm được quy định trong Luật mang tính bao quát cao nhằm
bảo đảm công tác phòng, chống mua bán người được thực hiện một cách thuận lợi,
có hiệu quả và xử lý nghiêm đối với những người vi phạm.
Bên
cạnh việc quy định những hành vi bị cấm, Luật cũng quy định cụ thể về công tác phòng
ngừa việc mua bán người, như: thông tin, tuyên truyền, giáo dục về phòng, chống
mua bán người; tư vấn về phòng ngừa mua bán người. Đây là biện pháp thông tin,
tuyên truyền, giáo dục đối với từng đối tượng cụ thể nhằm cung cấp những thông
tin thiết thực, giúp họ giải quyết những tình huống cụ thể, trong đó tập trung
vào một số đối tượng có nguy cơ cao trở thành nạn nhân của tội phạm về mua bán
người. Đây là biện pháp phòng ngừa tích cực nhằm hạn chế, tiến tới loại trừ
nguyên nhân và điều kiện dẫn đến tình trạng mua bán người; đó cũng chính là làm
tốt công tác quản lý về an ninh, trật tự không chỉ trong nội địa mà cả khu vực
biên giới, cửa khẩu và trên biển.
Quỳnh Ly |