|
Luật Tố tụng hành chính năm 2010, có hiệu lực từ ngày 01-7-2011
và bắt đầu đi vào cuộc sống. Để giúp người dân hiểu rõ và xác định đúng đối
tượng khởi kiện trong vụ án hành chính có vai trò rất quan trọng, không chỉ
trong việc giải quyết đúng đắn vụ án mà còn giúp họ bảo vệ tối đa quyền, lợi
ích chính đáng của mình.
Thực tế cho thấy, việc xác định đúng đối tượng
khởi kiện vụ trong án hành chính không phải là chuyện dễ dàng đối với người
dân. Vấn đề này, một mặt do hoạt động quản lý hành chính nhà nước hết sức đa
dạng kéo theo sự đa dạng của các loại quyết định hành chính, hành vi hành chính;
mặt khác, do nhận thức về quyết định hành chính, hành vi hành chính là đối
tượng khiếu kiện hành chính, còn có sự chưa thống nhất; cũng như việc xác định
đâu là quyết định hành chính, đâu là hành vi hành chính cũng gặp nhiều khó khăn.
Trong phạm vi bài viết này, tôi chỉ nêu một số
quan điểm của mình về việc xác định đâu là quyết định hành chính, hành vi hành
chính để giúp người dân hiểu rõ khi thực hiện quyền khiếu kiện của mình cho
đúng pháp luật:
1. Quyết định hành chính: là văn bản
do cơ
quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong
các cơ quan, tổ chức đó ban hành, quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt
động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể (khoản 1 điều 3 Luật TTHC). Như vậy, quyết định
hành chính được hiểu là văn bản được thể hiện dưới hình thức quyết định
hoặc dưới hình thức khác như thông báo, kết luận, công văn... do cơ quan hành
chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong các cơ
quan, tổ chức đó ban hành có chứa đựng nội dung của quyết định hành chính được
áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ thể
trong hoạt động quản lý hành chính mà người khởi kiện cho rằng quyền, lợi ích
hợp pháp của mình bị xâm phạm. Cụ thể, bao gồm:
a)
Quyết định hành chính được cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác
hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành trong khi giải
quyết, xử lý những việc cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính.
b)
Quyết định hành chính được ban hành sau khi có khiếu nại và có nội dung sửa
đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính nói
ở phần trên (quyết định giải quyết khiếu nại).
Vấn đề cần phải xác định thêm
là loại quyết định giải quyết khiếu nại nào thuộc đối tượng khởi kiện vụ án
hành chính, loại quyết định nào không. Theo cách hiểu của tôi về vấn đề này,
không phải mọi quyết định giải quyết khiếu nại của cơ quan hành chính đều là
đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính. Cụ thể là, nếu quyết định giải quyết khiếu nại được
ban hành theo quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo chỉ xem xét tính đúng sai của
nội dung khiếu nại mà không làm thay đổi nội dung của quyết định hành chính,
hành vi hành chính bị khiếu nại thì không phải là đối tượng khởi kiện của vụ án
hành chính. Ngược lai, nếu quyết định giải quyết đơn khiếu nại mà làm thay đổi
nội dung của quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại, thì quyết
định đó được xem là đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính, cùng với quyết
định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại ban đầu.
2. Hành vi hành chính: là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc của người có
thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ,
công vụ theo quy định của pháp luật (khoản 2, Điều 3 Luật TTHC). Như vậy, để
xác định đâu là hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ
chức khác; đâu là hành vi của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà
nước, cơ quan, tổ chức khác; đâu là hành vi không thực hiện nhiệm vụ, công vụ.
Để xác định vấn đề này, cần căn cứ vào quy định của pháp luật về thẩm quyền,
thời hạn thực hiện đối với nhiệm vụ, công vụ đó và phân biệt như sau:
a) Hành vi hành chính của cơ quan hành chính
nhà nước, cơ quan, tổ chức khác (gọi tắt là cơ quan, tổ chức): theo quy định của pháp luật, thì nhiệm
vụ, công vụ cụ thể thuộc thẩm quyền của cơ quan, tổ chức do người trong cơ
quan, tổ chức đó thực hiện theo sự phân công hoặc uỷ quyền, uỷ nhiệm thì hành
vi đó là hành vi hành chính của cơ quan, tổ chức chứ không phải là hành vi hành
chính của người đã trực tiếp thực hiện hành.
Ví dụ: Theo quy định tại Điều 126 của
Luật đất đai thì hồ sơ chuyển đổi quyền sử dụng đất nộp tại Ủy ban nhân dân xã,
phường, thị trấn. Ông Nguyễn Văn A đã nộp hồ sơ xin chuyển đổi quyền sử dụng
đất tại Ủy ban nhân dân xã X theo đúng quy định, nhưng bà Trần Thị C là cán bộ
nhận hồ sơ của Ủy ban nhân dân xã X đã trả lại hồ sơ cho ông A và không nêu lý
do của việc trả lại hồ sơ đó. Trong trường hợp này, việc trả lại hồ sơ cho ông
A là hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân xã X chứ không phải là hành vi hành
chính của bà Trần Thị C.
b) Hành vi hành chính của người có thẩm quyền:
việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ cụ thể do người được giao thẩm quyền theo quy
định của pháp luật, trong cơ quan, tổ chức thì việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ
cụ thể đó là hành vi hành chính của người có thẩm quyền, không phụ thuộc vào
việc họ trực tiếp thực hiện hay phân công, uỷ quyền, uỷ nhiệm cho người khác
thực hiện.
Ví dụ: Theo quy định của pháp luật
thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H là người có thẩm quyền tổ chức việc cưỡng chế
thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với
ông D, nhưng đã ủy nhiệm cho Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H trực tiếp tổ
chức việc cưỡng chế. Trong trường hợp này, việc cưỡng chế thi hành quyết định
xử phạt vi phạm hành chính đối với ông D là hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy
ban nhân dân xã H chứ không phải là hành vi hành chính của Phó Chủ tịch Ủy ban
nhân dân xã H.
c) Hành vi không thực hiện nhiệm vụ, công vụ
của cơ quan, tổ chức: theo quy định của pháp luật thì việc thực hiện nhiệm
vụ, công vụ cụ thể là của cơ quan, tổ chức, nhưng hết thời hạn theo quy định
của pháp luật mà cơ quan, tổ chức đó không thực hiện nhiệm vụ, công vụ của mình
thì được coi là hành vi không thực hiện nhiệm vụ, công vụ. Đây là loại hành vi được
thực hiện dưới dạng “không hành động” của cơ quan, tổ chức, không phụ thuộc vào
việc nhiệm vụ, công vụ đó được phân công, uỷ quyền, uỷ nhiệm cho người nào
trong cơ quan, tổ chức.
Ví dụ: Theo quy định tại Điều 7 của
Nghị định số 88/2006/NĐ-CP ngày 29-8-2006 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh
thì Phòng đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh A có thẩm quyền
cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho các doanh nghiệp được thành lập
trong địa giới hành chính tỉnh. Doanh nghiệp N đã nộp đầy đủ hồ sơ đăng ký kinh
doanh hợp lệ, nhưng quá thời hạn mà pháp luật quy định, Phòng đăng ký kinh
doanh không cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp N. Trong
trường hợp này, việc không cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho doanh
nghiệp N là hành vi hành chính của Phòng đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch
và Đầu tư tỉnh A.
d) Hành vi của người có thẩm quyền không thực
hiện nhiệm vụ, công vụ: theo quy định của pháp luật, việc thực hiện nhiệm
vụ, công vụ cụ thể là của người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức nhưng hết
thời hạn theo quy định của pháp luật mà người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ
chức đó không thực hiện nhiệm vụ, công vụ. Đây là hành vi được thực hiện dưới
dạng “không hành động” của người có thẩm quyền, không phụ thuộc vào việc họ đã
phân công, uỷ quyền, uỷ nhiệm cho người khác thực hiện.
Ví dụ: Theo quy định tại Điều 30 của Luật cư trú thì trong thời hạn 03 ngày
làm việc, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định, Trưởng Công an xã, phường,
thị trấn phải cấp sổ tạm trú cho hộ gia đình hoặc cá nhân đề nghị. Bà X đã nộp
đủ giấy tờ theo quy định đề nghị Trưởng Công an xã N cấp sổ tạm trú, nhưng quá
thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ mà Trưởng Công an xã N
không cấp sổ tạm trú cho bà X. Trong trường hợp này, việc không cấp sổ tạm trú
cho bà X là hành vi hành chính của Trưởng Công an xã N.
Trên
đây là ý kiến cá nhân của người viết, với mong muốn nêu lên một số quan điểm
của mình về một vài vấn đề còn mới trong Luật Tố tụng hành chính. Rất mong được
quý bạn đọc trao đổi thêm./.
Quỳnh Ly
|